Về thăm mảnh đất anh dũng ở Quảng Trị

Nằm ven châu thổ sông Thạch Hãn, Thị xã Quảng Trị cách cố đô Huế khoảng 60km về phía bắc, phía tây và phía bắc giáp huyện Triệu Phong, phía đông giáp huyện Hải Lăng và phía nam giáp huyện Đakrông và Hải Lăng. Thị xã Quảng Trị có diện tích tự nhiên là 7.402,78 ha, dân số 22.760 người; 5 đơn vị hành chính trực thuộc.

Có thể bạn quan tâm:https://quangtritravel.vn/cac-dia-diem-du-lich-noi-tieng-o-huyen-trieu-phong/

Địa hình thị xã Quảng Trị chia thành 2 vùng rõ rệt. Phía nam là vùng đồi núi với những thảm rừng có hệ sinh thái phong phú. Phía bắc là vùng đồng bằng tương đối bằng phẳng, thuận lợi cho việc trồng lúa và các loại cây ăn quả lâu năm. Hai con sông Thạch Hãn và Vĩnh Định chảy qua Thị xã hình thành các con đường thuỷ nối liền thị xã Quảng Trị về với Cửa Việt, Hội Yên, Đông Hà, thị xã Quảng Trị đi Thuận An (Thành phố Huế)…Đồng thời, 2 con sông chảy vào lòng thị xã đã góp phần tạo nên cảnh quan đẹp, khí hậu mát mẽ về mùa hè, bồi đắp phù sa cho ruộng đồng về mùa mưa.

Nằm trên trục đường giao thông chiến lược của quốc gia: quốc lộ I, tuyến đường sắt Bắc-Nam, địa bàn thị xã Quảng Trị giao thông ra bắc vào Nam hết sức thuận lợi. Thị xã cũng là đầu mối xuất phát của các con đường tỉnh lộ như đường 64 (thị xã Quảng Trị- Cửa Việt), đường 68 (thị xã Quảng Trị- đồng bằng Triệu Hải- Phong Quảng) và nhiều con đường khác: thị xã Quảng Trị -La Vang- Phước Môn, thị xã Quảng Trị- Thượng Phước- Trấm- Cùa. Với hệ thống đường bộ, đường sắt, đường thuỷ từ trung tâm thị xã có thể mở rộng phát triển khắp các vùng, tiện lợi cho việc giao lưu kinh tế, văn hoá giữa thị xã Quảng Trị với các huyện, thị trong tỉnh, trong nước. Vì vậy, thị xã Quảng Trị có một vị trí quan trọng không chỉ về kinh tế mà cả về chính trị, quân sự, văn hoá, xã hội.

Khí hậu thị xã Quảng Trị mang đậm nét điển hình của khí hậu vùng nhiệt đới gió mùa. Sự khắc nghiệt của khí hậu kết hợp với sự phức tạp của địa hình thường xuyên gây ra bão, lụt, hạn hán, giá rét… Đặc biệt, gió mùa tây-nam bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 7 hàng năm, nhiệt độ có lúc lên tới 40oC-41oC, làm cho nguồn nước sông cạn kiệt, nước mặn tràn vào gây ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất, sinh hoạt của nhân dân thị xã.

– Về địa lý hành chính: Từ lâu đời, vào thời đại Hùng Vương, mảnh đất thị xã Quảng Trị ngày nay thuộc bộ Việt Thường, một trong 15 bộ của nước Văn Lang. Dưới thời kỳ Bắc thuộc, từ 179 trước công nguyên đến 192 sau công nguyên, nhà Hán chia nước Âu Lạc thành 3 quận: Giao chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam. Bộ Việt Thường thuộc quận Nhật Nam. Đến cuối thế kỷ thứ II sau CN, đời Sơ Bình (190-193), nhà Đông Tấn Trung Quốc suy yếu, Vương quốc Chăm Pa, một nước mới thành lập ở phía nam đèo Hải Vân, đem quân đánh chiếm vùng đất bộ Việt Thường. Vùng đất này trở thành biên địa phía bắc của Vương quốc Chăm Pa độc lập với cơ cấu 5 châu: Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh, Ô và Rí (Lý), vùng đất thị xã Quảng Trị thuộc châu Ô.

Năm 1069, vua Lý Thái Tông đem quân đánh vào kinh thành Chăm Pa, bắt được vua Chế Củ. Chế Củ xin dâng 3 châu Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh để được trả tự do. Nhà Lý đổi 3 châu đó thành châu Lâm Bình và Minh Linh.

Năm 1306, vua Chăm Pa là Chế Mân sai sứ dâng chiếu cầu hôn công chúa vua Trần Anh Tông nước Đại Việt. Vua Trần bằng lòng gả công chúa Huyền Trân cho Chế Mân và nhận hai châu Ô và Rí (Lý) mà Chế Mân dâng làm vật sính lễ. Nhà Trần đổi châu Ô làm Thuận Châu, châu Lý làm Hoá Châu. Mảnh đất thị xã Quảng Trị ngày nay thuộc châu Thuận.

Đời Hậu Lê năm 1466, vua Lê Thánh Tông đổi hai châu Thuận và Hoá thành hai phủ Tân Bình và Triệu Phong thuộc xứ Thuận Hoá. Phủ Triệu Phong gồm các huyện Vũ Xương, Hải Lăng… Mảnh đất thị xã Quảng Trị thuộc huyện Hải Lăng.

Năm 1558, để tránh nguy cơ bị ám hại bởi bàn tay của người anh rễ là Trịnh Kiểm, Nguyễn Hoàng- con trai thứ của Thái tổ Nguyễn Kim- xin vào trấn thủ xứ Thuận Hoá.

Từ khi đặt chân lên dải đất của phía Nam Hoành Sơn đến khi mất (1558-1613), Nguyễn Hoàng lần lượt đóng bản doanh ở gò phù sa Ái Tử (1558), làng Trà Bát (1570). Năm 1600, Nguyễn Hoàng lại dời phủ tới Dinh cát (phía Đông Ái Tử ), chăm lo mở mang bờ cõi, phát triển kinh tế, văn hoá. Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng: dưới thời Nguyễn Hoàng, ở hai trấn Thuận, Quảng “chính lệnh khoan hoà, thường ban ân huệ, dùng phép công bằng, khuyên răn bản bộ, trấn áp những kẻ hung ác, dân hai trấn đều cảm lòng, mến đức; thay đổi phong tục, chợ không nói thách, dân không trộm cắp, cổng ngoài không phải đóng, thuyền buôn nước ngoài đều đến buôn bán, đổi trao phải giá, quân lệnh nghiêm cấm, mọi người ra sức”. Nguyễn Hoàng và các chúa Nguyễn xây dựng xứ Thuận Hoá dần dần trở thành bờ cõi riêng và xưng chúa.

Từ đầu thế kỷ XVIII đến năm 1774, các chúa kế nghiệp Nguyễn Hoàng, đặc biệt là Nguyễn Phúc Thuần, bằng chính sách cai trị hà khắc, đã thả lỏng cho bọn quan lại tha hồ bóc lột, đục khoét nhân dân. Chính vì vậy, từ giữa thế kỷ XVIII, những cuộc nổi dậy của nhân dân Đàng Trong liên tiếp nổ ra, nổi bật nhất là phong trào nông dân Tây Sơn.

Sau cái chết đột ngột của Nguyễn Huệ (16-9-1792), lợi dụng tình hình phong trào Tây Sơn gặp khó khăn và dựa vào sự chi viện của ngoại bang, Nguyễn Ánh cất quân phản kích Tây Sơn. Tháng 6-1801, Nguyễn Ánh tiến chiếm Phú Xuân rồi lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Gia Long. Sau khi giành lại được chính quyền, Gia Long lập dinh Quảng Trị bao gồm đất đai các huyện Hải Lăng, Đăng Xương (tên cũ là Vũ Xương), Minh Linh và đạo Cam Lộ (mới lập). Đến năm 1827, dinh Quảng Trị đổi là trấn Quảng Trị. Năm 1832, trấn Quảng Trị được đổi thành tỉnh Quảng Trị.

Dinh lỵ Quảng Trị đóng tại làng Tiền Kiên (thuộc huyện Đăng Xương), năm 1809, dinh lỵ Quảng Trị dời từ Tiền Kiên tới đóng tại xã Thạch Hãn (huyện Hải Lăng), tức vị trí của thị xã Quảng Trị ngày nay và tiến hành xây thành, đắp luỹ cố định. Ban đầu, thành được đắp bằng đất, đến năm Minh Mạng thứ 18 (1837), thành được xây dựng bằng gạch nung.

Năm 1853, tỉnh Quảng Trị với phủ Thừa Thiên hợp nhất thành đạo Quảng Trị. Năm 1876 lập lại tỉnh Quảng Trị. Năm 1890, toàn quyền Đông Dương ra Nghị định hợp nhất Quảng Trị với tỉnh Quảng Bình thành tỉnh Bình Trị. Năm 1896, toàn quyền Đông Dương lại ra Nghị định tách Quảng Trị ra khỏi địa hạt thuộc quyền Công Sứ Đồng Hới, hợp cùng với Thừa Thiên đặt dưới quyền Khâm sứ Trung Kỳ. Năm 1900, toàn quyền Đông Dương ra Nghị định tách Quảng Trị khỏi Thừa Thiên, lập thành tỉnh Quảng Trị riêng biệt. Ngày 17-2-1906, toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập thị xã Quảng Trị (tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Trị)

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30/4/1975), đi ra khỏi cuộc chiến tranh, trong cảnh hoang tàn đổ nát, thị xã Quảng trị trở thành huyện lỵ của huyện Triệu Phong. Tháng 1-1977, Uỷ ban nhân dân tỉnh Bình Trị Thiên ra quyết định thành lập thị trấn Triệu Phong. Tiếp đó, hai huyện Triệu Phong và Hải Lăng hợp nhất thành huyện Triệu Hải, thị trấn Triệu Phong được đổi thành thị trấn Triệu Hải. Ngày 18-5-1981, Hội đồng Chính phủ ra quyết định thành lập thị trấn Quảng Trị (bao gồm thị trấn Triệu Hải và xã Hải Trí)

Sau khi tỉnh Quảng Trị được lập lại vào ngày 1-7-1989, theo nguyện vọng của Đảng bộ và nhân dân Thị xã muốn xây dựng một đô thị “ đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” để xứng đáng với tầm vóc và vị thế lịch sử, ngày 16-9-1989, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra quyết định thành lập thị xã Quảng Trị. Ngày 19-3-2008, đáp ứng yêu cầu phát triển của tình hình mới, Chính phủ ra Nghị định V/v điều chỉnh địa giới hành chính huyện Hải Lăng, huyện Triệu phong để mở rộng địa giới hành chính thị xã Quảng trị, điều chỉnh địa giới hành chính các xã, phường để thành lập phường thuộc thị xã Quảng Trị với cơ cấu 4 phường và một xã.

  – Về các loại hình kinh tế:Phát huy lợi thế về vị trí địa lý, địa hình, trải qua các thời kỳ lịch sử, cư dân thị xã Quảng Trị không ngừng đấu tranh để phát triển sản xuất. Trong nông nghiệp, biểu hiện chủ yếu là sự phổ biến các công cụ bằng sắt và kỹ thuật cày bừa do trâu, bò kéo. Nhiều loại phân đã được dùng để tăng độ phì nhiêu cho đất. Ngoài lúa, nông dân ta còn trồng khoai, đậu và nhiều loại cây rau, củ khác (củ từ, môn, củ cải…). Bên cạnh các nghề chính như làm ruộng, làm nghề thủ công, làm vườn thì nghề trồng bông, nhất là nghề dâu tằm cũng khá phát triển. Đối tượng của nghề làm vườn là các loại rau, dưa, bầu, bí, cây ăn quả. Kỹ thuật chiết cành, trồng cây đã xuất hiện. Về chăn nuôi, ngoài trâu, bò, nhà nào cũng nuôi lợn, chó, gà, vịt.

Các nghề thủ công như rèn sắt, đan lát bằng tre, mây… được áp dụng rộng rãi, phổ biến. Nghề gốm tiếp tục phát triển trên vốn liếng kinh nghiệm cổ truyền, có tiếp thu ít nhiều ảnh hưởng của kỹ thuật Trung Quốc. Cùng phát triển với nghề gốm là nghề làm gạch, ngói phục vụ các công trình kiến trúc thành quách, chùa chiền… Trên cơ sở phát triển nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và nhờ có hệ thống giao thông thuỷ, bộ thuận tiện, việc buôn bán ở thị xã ngày càng sầm uất. Từ nửađầu thế kỷ XVI, sách Ô Châu cận lục của Dương Văn An đã ghi lại cuộc sống của người dân ở đây: “non sông kỳ tú, ruộng đất mở mang, nhân dân đông đúc, thực là nơi đô hội lớn của một phương, cảnh tượng vui vẽ, phong vật quý giá

   – Về văn hoá, xã hội:Do đặcđiểm tự nhiên và lịch sử hình thành,văn hoá Thị xã Quảng Trị nằm ở dải đất hội tụ hai phong cách văn hoá Việt và Chàm. Cùng với sự thông thương đường bộ, đường thuỷ, đời sống văn hoá ở đây khá phong phú và đa dạng. Nhiều làn điệu dân ca như hò, vè, đồng dao mang đậm sắc thái dân gian. Đặc biệt là hò Như lệ đã trở thành một di sản văn hoá phi vật thể của quê hương Quảng trị. Các phong tục tập quán, lễ nghi của văn hoá Việt được bảo tồn khá rõ nét. Quốc sử quán Triều Nguyễn trong bộ Đại Nam nhất thống chí đãghi: “Tế lễ vào mùa xuân, mùa thu. Ngày rằm các tháng giêng, tháng bảy, tháng mười gọi là tam nguyên, các gia đình đều cúng tổ tiên ông bà”.

Thị xã Quảng Trị có nhiều di tích lịch sử, văn hoá như miếu Thành Hoàng, đền Xã Tắc của đạo Quảng Trị dựng ở Thạch Hãn, đền Văn thánh ở An đôn, Nghĩa Trũng; đặc biệt là toà Thành Cổ bằng gạch kiên cố, dinh luỹ của chế độ phong kiến còn để lại- đánh dấu công trình xây bằng mồ hôi và máu của bao kiếp đời dân nô lệ. Thành Cổ sau này đã gắn liền với chiến công hiển hách 81 ngày đêm lịch sử của quân và dân ta trong chiến dịch xuân hè-1972, làm nức lòng nhân dân cả nước và bạn bè quốc tế.

Về tôn giáo, với vị trí địa lý thuận lợi, các tôn giáo như đạo Khổng, đạo Phật, Thiên Chúa có mặt khá sớm ở thị xã Quảng Trị. Sự hiện diện của các tôn giáo góp phần làm cho đời sống tinh thần của nhân dân thêm đa dạng và phong phú.

Nguồn:quangtri.gov.vn

QUẢNG TRỊ TRAVEL | CÔNG TY TNHH MTV LỮ HÀNH LAVANG

Điện thoại: 02333.708090 | Hotline: 0945.313989 | Email: [email protected] | Web: www.lavangtravel.com